FPT mở rộng mảng mới, lấy dữ liệu và AI làm nền tảng phát triển đường sắt đô thị thông minh

Tần Minh
Author: Tần Minh

Việc phát triển hệ thống metro tại Việt Nam không chỉ là bài toán hạ tầng giao thông, mà còn mở ra cơ hội hình thành các nền tảng dữ liệu và công nghệ cho đô thị thông minh.
Nhận định cho tầm nhìn bối cảnh mới, Tập đoàn FPT cho biết đã thành lập đơn vị công nghệ chiến lược FPT Railway Mobility Technology vào cuối năm 2025, với định hướng phát triển các giải pháp công nghệ cho đường sắt, giao thông thông minh và đô thị thông minh.
Tập đoàn FPT sẵn sàng đồng hành cùng Chính phủ, các địa phương và đối tác trong việc phát triển các giải pháp công nghệ cho Smart Metro và Smart TOD, đồng thời đóng vai trò cầu nối giữa hệ sinh thái công nghệ trong nước với các đối tác quốc tế.
Với hơn một thập kỷ tham gia các dự án chuyển đổi số trong lĩnh vực giao thông và đô thị tại Việt Nam, FPT đã triển khai nhiều giải pháp công nghệ như hệ thống thông tin giao thông thông minh, nền tảng dữ liệu giao thông, ứng dụng GoBus cho giao thông công cộng TP.HCM, các giải pháp thanh toán điện tử và quản lý vận hành cho hệ thống metro.
Ông Nguyễn Duy Thạch – Giám đốc Ban Chuẩn bị đầu tư thuộc Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP.HCM (MAUR), TP.HCM đang bước vào giai đoạn phát triển mạng lưới metro với quy mô lớn, gắn với định hướng phát triển đô thị dài hạn của thành phố và khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam.
Theo quy hoạch, mạng lưới đường sắt đô thị TP.HCM có tổng chiều dài khoảng 1.024 km với 27 tuyến, kết nối khu vực TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu. Các tuyến metro được định hướng kết nối trung tâm TP.HCM với các khu đô thị mới, khu công nghiệp, cảng biển, sân bay và hệ thống giao thông vành đai. Khi hoàn thành, hệ thống này sẽ trở thành “xương sống” của mạng lưới vận tải công cộng, kết nối với các loại hình vận tải khác như xe buýt, BRT và các phương tiện di chuyển cá nhân.
Bên cạnh đó, ông Trần Võ Anh Minh – Phó Trưởng phòng Quản lý Đường sắt đô thị (Sở Xây dựng TP.HCM) cho biết phát triển metro không chỉ là đầu tư hạ tầng mà còn là đầu tư cho con người. Theo dự báo của thành phố, riêng lực lượng vận hành và khai thác hệ thống đường sắt đô thị có thể cần khoảng 17.000 người vào năm 2045, trong khi lực lượng xây dựng có thể lên tới hơn 20.000 người.
Về phía FPT, ông Phan Thanh Sơn, Giám đốc Chiến lược Đường sắt FPT Railway Mobility Technology cho biết đồng hành với sự phát triển, vai trò của dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo (AI) trong quy hoạch, thiết kế, quản lý khai thác và vận hành hệ thống đường sắt đô thị là luôn cần thiết.
Ông nhấn mạnh rằng Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn để không chỉ xây dựng các tuyến metro mới, mà còn đồng thời hình thành một năng lực công nghệ nội sinh cho ngành đường sắt đô thị. Theo ông, nếu biết kết hợp giữa đầu tư hạ tầng, chiến lược dữ liệu, hệ sinh thái doanh nghiệp và đào tạo nhân lực, Việt Nam hoàn toàn có thể rút ngắn quá trình tiếp cận công nghệ, từng bước làm chủ các khâu then chốt và hướng tới xuất khẩu giải pháp trong tương lai.
Đại diện FPT cho rằng giá trị lớn nhất của metro trong đô thị thông minh không chỉ nằm ở năng lực vận chuyển hành khách, mà còn ở khả năng hình thành một hệ sinh thái công nghệ phục vụ dự báo nhu cầu đi lại, tối ưu vận hành, đảm bảo an toàn công cộng, tổ chức lại không gian đô thị và phát triển các dịch vụ mới xoay quanh ga tàu, hành trình và các điểm kết nối đa phương thức.
Từ kinh nghiệm thực tiễn, ông Phan Thanh Sơn đề xuất các định hướng lớn cho quá trình phát triển đường sắt đô thị tại Việt Nam. Theo ông, trước hết cần định hướng phát triển hệ thống metro dựa trên nền tảng dữ liệu và AI, ứng dụng AI và dữ liệu lớn xuyên suốt từ khâu quy hoạch, thiết kế đến quản lý khai thác và vận hành, đồng thời coi dữ liệu hạ tầng giao thông là tài sản chiến lược của quốc gia.
Bên cạnh đó, quá trình triển khai các dự án metro cần gắn với lộ trình từng bước làm chủ công nghệ ngành đường sắt. Từ kinh nghiệm của nhiều quốc gia như Hàn Quốc hay Trung Quốc, việc tiếp nhận và phát triển các công nghệ cốt lõi trong thiết kế, vận hành và bảo trì hệ thống là yếu tố quan trọng để giảm phụ thuộc vào tư vấn và nhà cung cấp nước ngoài, đồng thời nâng cao năng lực nội địa.

Để lại một bình luận